Nổ lực đưa sân bay Long Thành hoạt động

Quy mô dự án rất lớn, nhiều cơ chế đặc thù, tác động đến các chính sách vĩ mô của quốc gia… nhưng mọi vướng mắc phải sớm được giải quyết để đưa sân bay Long Thành vào hoạt động theo lộ trình
Tại phiên họp toàn thể lần thứ 13 của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, ngày 14-10, các đại biểu tiếp tục cho ý kiến Báo cáo nghiên cứu khả thi (BCNCKT) dự án đầu tư xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành (sân bay Long Thành) giai đoạn 1, qua đó xem xét các vấn đề về vốn, pháp lý, phương thức thực hiện từng công đoạn và những vướng mắc còn lại để thúc đẩy thực hiện dự án.

Làm rõ nguyên tắc chỉ định thầu

Theo quy định tại Luật Đầu tư công năm 2014, Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư dự án quan trọng quốc gia. Tuy nhiên, Nghị quyết 94/2015 của Quốc hội khóa XIII về chủ trương đầu tư dự án sân bay Long Thành quy định: "Chính phủ chỉ đạo lập BCNCKT từng giai đoạn của dự án báo cáo Quốc hội thông qua trước khi quyết định đầu tư. Do vậy, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua một số nội dung chính của BCNCKT".

Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang (ảnh minh họa)

Cụ thể là các nội dung: Hình thức đầu tư, tổng mức đầu tư và phương án huy động vốn; điều chỉnh diện tích đất giai đoạn 1 tăng từ 1.165 ha lên 1.810 ha; điều chỉnh 1.050 ha đất dành cho quốc phòng thành 570 ha đất dùng riêng cho quốc phòng và 480 ha đất dùng chung giữa quốc phòng và dân dụng; bổ sung hai tuyến đường bộ kết nối.

Cho ý kiến về hình thức đầu tư, tổng mức đầu tư và phương án huy động vốn trong BCNCKT dự án sân bay Long Thành giai đoạn 1, nhiều đại biểu tán thành với phương thức huy động vốn thực hiện 4 hạng mục và công trình phụ trợ. Tuy nhiên, cũng có đại biểu cho rằng trong Tờ trình của Chính phủ cần làm rõ đơn vị tư vấn là tổ chức nào, chứ không phải là liên danh nhà thầu. Bởi theo quy định, liên danh các nhà thầu chỉ thành lập sau khi lựa chọn một đơn vị tư vấn cụ thể. Về hình thức đầu tư phải thực hiện theo Luật Đấu thầu nhưng BCNCKT đề xuất phương án chỉ định thầu và giao Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV). Vì vậy, Chính phủ cần phải làm rõ các căn cứ, nguyên tắc khi tiến hành chỉ định thầu đối với dự án này.

Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang, cho rằng khi giải trình trước Quốc hội, Chính phủ làm rõ lý do, nguyên tắc, cơ chế chỉ định thầu, năng lực và khả năng phân bổ nguồn lực của nhà thầu. Đại biểu Nguyễn Trường Giang, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, nhấn mạnh theo quy định, dự án này phải áp dụng phương thức đấu thầu nhưng Chính phủ đề xuất phương án chỉ định thầu thì cần làm rõ nguyên tắc chỉ định thầu và Quốc hội cũng chỉ quyết định về cơ chế chỉ định thầu, chứ không tiến hành chỉ định thầu đối với một đơn vị cụ thể như đã nêu trong báo cáo của Chính phủ.

Thêm gánh nặng nợ công

Trong BCNCKT đã nêu sẽ không làm tăng trần nợ công nếu sử dụng vốn ODA, nhưng đây là dự án thuộc đối tượng bảo lãnh của Chính phủ, phải đưa vào nợ công, vì vậy đại biểu Quốc hội đề nghị Chính phủ phải giải trình rõ vấn đề này.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh (ảnh minh họa)

Cho ý kiến về vấn đề này, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh yêu cầu khi tính toán tổng mức đầu tư dự án, cần bám sát các quy định trong Nghị quyết 94 của Quốc hội, trong đó nhà nước bố trí nguồn vốn, nhưng khi thực hiện trên thực tế có khả năng tăng cao hơn dự kiến. Ngoài ra, trong báo cáo, Chính phủ chưa phân tích rõ những tác động của nguồn vốn ODA ảnh hưởng như thế nào đến nợ công, những ràng buộc của các bên tài trợ và Chính phủ có phải bảo lãnh đối với nguồn vốn này hay không?

Một vấn đề khác là tại BCNCKT dự án sân bay Long Thành đã đề xuất bổ sung 2 tuyến giao thông kết nối sân bay với hệ thống giao thông khu vực xung quanh. Trong đó, tuyến số 1 dài 3,8 km kết nối trục chính sân bay với Quốc lộ 51 giai đoạn 1 đầu tư với quy mô 6 làn xe; tuyến số 2 dài 3,5 km, kết nối tuyến số 1 với đường cao tốc TP HCM – Long Thành – Dầu Giây.

BCNCKT nêu do 2 tuyến đường bộ này trực tiếp phục vụ khai thác sân bay Long Thành, đồng thời tuyến số 1 sẽ là đường công vụ chính để ra vào thi công giai đoạn 1 của dự án nên cần bố trí vốn kịp thời để triển khai sớm. Do đó, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, chấp thuận chủ trương bổ sung 2 tuyến này vào dự án sân bay Long Thành và giao ACV trực tiếp đầu tư. Tổng chi phí dự kiến khoảng 4.800 tỉ đồng và diện tích giải phóng mặt bằng khoảng 136 ha.

Sớm giải phóng mặt bằng

Theo tính toán chung, liên quan đến tổng tiến độ dự án, nếu được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 và cuối năm nay Chính phủ phê duyệt thì đầu năm 2021, ACV sẽ khởi công dự án sân bay Long Thành. Trong BCNCKT, dự án sân bay Long Thành giai đoạn 1 vừa trình Quốc hội, Chính phủ kiến nghị Quốc hội cho phép ACV đầu tư 3/4 hạng mục quan trọng.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng (ảnh minh họa)

Cụ thể, hạng mục các công trình trụ sở cơ quan quản lý nhà nước sẽ giao ACV là nhà đầu tư – khai thác cảng, sau đó cho các cơ quan quản lý nhà nước thuê. Hạng mục các công trình thiết yếu của cảng hàng không dự kiến giao cho ACV trực tiếp đầu tư bằng vốn của doanh nghiệp. Hạng mục các công trình dịch vụ đề xuất giao nhà đầu tư, khai thác cảng (ACV) hợp tác đầu tư, nhượng quyền đầu tư, khai thác hoặc xã hội hóa đầu tư. Riêng các công trình phục vụ quản lý bay sẽ giao cho Tổng Công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM) trực tiếp đầu tư bằng vốn của doanh nghiệp.

Theo phương án phân chia khai thác được Cục Hàng không Việt Nam chấp thuận để xây dựng báo cáo khả thi dự án, sân bay Long Thành sẽ phục vụ 80% số chuyến bay và lượng khách quốc tế của khu vực TP HCM. Điều này đồng nghĩa với việc chia sẻ sản lượng hành khách và tàu bay quốc tế của Tân Sơn Nhất sang Long Thành ngay khi cảng hàng không này đưa vào khai thác.

Ngoài ra, việc giải tỏa, bồi thường, tái định cư cũng đang gặp một số vướng mắc. Chẳng hạn như quá trình kiểm đếm để giải tỏa bồi thường, tái định cư khi chỉ mới kiểm đếm đất đai của 276 hộ, thì đã có tới 179 hộ không thể kiểm kê được vì đất vắng chủ.

Quá trình giải phóng mặt bằng sân bay Long Thành được chia thành nhiều giai đoạn. Giai đoạn 1 (khu vực ưu tiên) đang thực hiện giải phóng 1.165 ha, gồm 1.000 ha đất trồng cao su của Tổng Công ty Cao su Đồng Nai, số còn lại là đất các hộ gia đình, cá nhân với 455 hộ. Tuy nhiên, theo thống kê của UBND huyện Long Thành, trong số 455 hộ dân nằm trong diện giải tỏa giai đoạn 1, có đến 179 hộ chưa kiểm đếm được. 

Theo Nguồn Báo Người lao động.

Cảm ơn bạn đã like và chia sẻ bài viết này